|
A- A A+ |

ĐẬP TAN ÂM MƯU CƯỠNG ÉP GIÁO DÂN DI CƯ VÀ DẬP TẮT VỤ BẠO LOẠN BA LÀNG (1954 - 1955)

Chiến thắng Điện Biên Phủ và việc ký kết Hiệp định Giơnevơ năm 1954 đã mở ra một giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân và từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, ngay sau khi Hiệp định được ký kết, đế quốc Mỹ nhanh chóng thay chân thực dân Pháp, từng bước triển khai chiến lược chống phá lâu dài đối với miền Bắc bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, trong đó lợi dụng vấn đề tôn giáo được xác định là một trong những hướng tiến công trọng yếu. Lợi dụng Điều 8 của Hiệp định Giơnevơ quy định “Mọi người Việt Nam đều có quyền lựa chọn nơi cư trú”, đế quốc Mỹ, thực dân Pháp và các thế lực phản động đã đẩy mạnh hoạt động dụ dỗ, lừa bịp và cưỡng ép đồng bào Công giáo miền Bắc di cư, nhằm tạo nguồn nhân lực và cơ sở xã hội cho chính quyền tay sai ở miền Nam, đồng thời gây mất ổn định xã hội ở miền Bắc, làm suy yếu chính quyền cách mạng ngay từ những năm đầu hòa bình lập lại. Để thực hiện âm mưu đó, Mỹ và thực dân Pháp đã thành lập cái gọi là “Tổng ủy di cư”, huy động hàng giáo phẩm cực đoan, sử dụng hệ thống tuyên truyền với quy mô lớn, tung ra hàng loạt luận điệu mê tín và phản động như: “Chúa đã vào Nam”, “Đức Mẹ hiện hình”, “Ở lại miền Bắc sẽ mất đạo” nhằm gieo rắc tâm lý hoang mang trong giáo dân. Bên cạnh đó, chúng kết hợp mua chuộc, cưỡng ép, đe dọa và hỗ trợ vật chất để lôi kéo giáo dân rời bỏ quê hương. Dưới chiêu bài “tự do di cư”, các thế lực thù địch từng bước xây dựng cơ sở chính trị, chuẩn bị lực lượng chống phá cách mạng, tạo tiền đề cho chiến lược chia cắt lâu dài đất nước.

Là địa phương có vị trí chiến lược ở khu vực Bắc Trung Bộ, Thanh Hóa nhanh chóng trở thành một trong những địa bàn trọng điểm mà địch tập trung chống phá. Trong chiến dịch cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam, các đối tượng phản động đã lựa chọn xứ Ba Làng, xã Hải Thanh, huyện Tĩnh Gia làm trọng điểm chống phá. Dưới sự cầm đầu Linh mục Phạm Tần cùng linh mục Nguyễn Dương Hiển đã chỉ đạo các giáo xứ Kén Thôn, Thượng Chiểu, Thái Yên, Phúc Lãng… tập trung giáo dân về Ba Làng, biến nơi đây thành trung tâm tập kết nhằm gây sức ép với chính quyền cách mạng và tạo cớ để Uỷ ban Quốc tế can thiệp. Chúng đã lợi dụng các hoạt động tôn giáo để xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, kích động giáo dân không công nhận chính quyền cách mạng, từng bước hình thành một khu vực biệt lập do các phần tử phản động khống chế. Các đối tượng cầm đầu tổ chức mít tinh, tổ chức lực lượng canh gác, dựng rào chắn, lập chòi quan sát, kiểm soát chặt chẽ việc ra vào khu vực nhà thờ, ngăn cản cán bộ tiếp xúc với giáo dân; đồng thời bí mật tích trữ lương thực, vũ khí, chuẩn bị điều kiện để cố thủ lâu dài. Ngoài khơi Ba Làng thường xuyên có tàu chiến của thực dân Pháp neo đậu, vừa làm chỗ dựa tinh thần cho các đối tượng cầm đầu, vừa tạo sức ép tâm lý đối với chính quyền và nhân dân địa phương. Từ một địa điểm tập trung giáo dân, xứ Ba Làng từng bước bị biến thành trung tâm chỉ huy các hoạt động cưỡng ép giáo dân di cư và chuẩn bị cho một vụ bạo loạn có tổ chức, đe dọa trực tiếp đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn.

Toàn cảnh Hiệp định Giơnevơ năm 1954 (nguồn: Internet)

 

Nhận rõ bản chất của vụ việc, Trung ương Đảng xác định đây không còn là vấn đề tôn giáo đơn thuần mà là một âm mưu chính trị đặc biệt nguy hiểm do đế quốc Mỹ và các thế lực phản động đạo diễn. Trên cơ sở đó, ngày 08/9/1954, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 91-CT/TW, yêu cầu các cấp ủy đảng tập trung lãnh đạo đấu tranh chống âm mưu cưỡng ép giáo dân di cư, đồng thời quán triệt quan điểm giải quyết đúng đắn vấn đề tôn giáo, kiên quyết đấu tranh với các phần tử lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng nhưng tuyệt đối tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của Nhân dân. Thường vụ Liên khu IV đã ban hành chỉ thị hướng dẫn các địa phương chủ động nắm tình hình, phát hiện và tổ chức đấu tranh đập tan âm mưu thâm độc của địch; trong đó cần kết hợp chặt chẽ giữa công tác tuyên truyền; vận động quần chúng với việc đề cao quyền lực Nhà nước; tranh thủ các linh mục tiến bộ để giáo dục, thuyết phục đồng bào ở lại quê hương.

Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Trung ương và Liên khu IV, dưới sự chi đạo của Thứ Bộ Công an, Tỉnh ủy Thanh Hóa, Ty Công an Thanh Hoá đã nhanh chóng chuyển hướng công tác, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu phá hoại của địch. Ngày 19/12/1954, Tỉnh ủy Thanh Hóa quyết định thành lập Ban chỉ đạo giải quyết vấn đề Ba Làng, giao Ban Bảo vệ chính trị thuộc Ty Công an Thanh Hóa làm lực lượng nòng cốt, phối hợp với Quân đội, Ban Tôn giáo, Mặt trận và chính quyền địa phương triển khai đồng bộ các biện pháp đấu tranh. Đây là quyết định có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước chuyển từ giai đoạn theo dõi, nắm tình hình sang giai đoạn tổ chức đấu tranh toàn diện.

Ty Công an Thanh Hóa đã nhanh chóng triển khai lực lượng bám sát địa bàn, xây dựng mạng lưới cơ sở trong quần chúng, trực tiếp điều tra, xác minh, làm rõ tổ chức, phương thức hoạt động và vai trò của từng đối tượng cầm đầu. Trên cơ sở nhận định đại đa số giáo dân là những người bị lừa bịp, cưỡng ép, trong khi đó số đối tượng cầm đầu mới là lực lượng chủ yếu tổ chức các hoạt động chống phá. Lực lượng Công an đã tiến hành phân hoá đối tượng, tích cực tranh thủ các chức sắc, chức việc và những giáo dân có uy tín, có tinh thần yêu nước; kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh nghiệp vụ; thành lập các tổ công tác trực tiếp xuống từng giáo xứ, từng khu dân cư tuyên truyền, giải thích chính sách của Đảng và Chính phủ, vạch trần âm mưu lợi dụng tôn giáo của đế quốc Mỹ và thực dân Pháp, đồng thời nắm tình hình bố trí lực lượng canh gác, việc cất giấu vũ khí, lương thực, phương án hoạt động của các đối tượng phản động, đặc biệt bí mật xây dựng cơ sở, tạo thế chủ động, không để bị bất ngờ trước những diễn biến phức tạp của vụ việc.

Kiên trì thực hiện phương châm “đánh vào lòng người”, lấy công tác chính trị, tư tưởng làm trọng tâm nên ngày 20/12/1954, lực lượng vũ trang tỉnh đã vận động được khoảng 2.000 giáo dân rời Ba Làng trở về địa phương, làm cho kế hoạch tập trung lực lượng của các phần tử phản động bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tuy nhiên, trước nguy cơ kế hoạch bị thất bại, các đối tượng phản động tiếp tục ngoan cố chống đối, tổ chức lực lượng vũ trang truy lùng cán bộ, cướp vũ khí của bộ đội, hành hung lực lượng làm nhiệm vụ và phá hoại tài sản của nhân dân. Từ ngày 20 đến ngày 24/12/1954, các đối tượng cầm đầu đã chỉ đạo hành hung 28 chiến sĩ bộ đội, 4 cán bộ công an và 9 cán bộ tôn giáo vận.

Diễn biến xứ Ba Làng ngày càng đặc biệt căng thẳng, trước tình hình đó, Ban chỉ đạo vừa tiếp tục kiên trì vận động quần chúng, vừa khẩn trương hoàn thiện phương án xử lý, sử dụng đồng bộ các biện pháp đúng thời điểm, đúng đối tượng và hạn chế thấp nhất thiệt hại. Chính trong giai đoạn này, bản lĩnh chính trị, sự mưu trí và nghệ thuật tổ chức đấu tranh của lực lượng Công an Thanh Hóa được thể hiện rõ nét, từng bước làm tan rã cơ sở xã hội của các phần tử phản động, đồng thời chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện về lực lượng, phương án và thế trận bước vào giai đoạn cao trào của cuộc chiến.

 

 

 

Ảnh: Bà con giáo dân trên đường di cư vào Nam (nguồn: Internet)

 

Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tình hình, Ban chỉ đạo tiếp tục cử cán bộ bám sát địa bàn, nắm chắc mọi diễn biến bên trong khu vực Ba Làng, đồng thời tăng cường gặp gỡ các chức sắc, chức việc và giáo dân có tinh thần yêu nước để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ. Đồng thời yêu cầu linh mục Phạm Tần tổ chức mít tinh nhằm ổn định giáo dân và ngăn chặn hoạt động quá khích của các phần tử phản động. Ngày 02/01/1955, lực lượng trinh sát đã bắt giữ 07 trong số 11 đối tượng dùng thuyền đánh cá chuyển thư liên lạc với tàu Pháp ngoài biển; đồng thời bắt giữ em bé bị lợi dụng giả làm “Đức mẹ hiện hình”, qua đó bóc trần thủ đoạn lừa bịp của địch.

Chiều ngày 03/01/1955, Ban Chỉ đạo triển khai hệ thống loa phóng thanh xung quanh nhà thờ Ba Làng để tuyên truyền chính sách của Đảng và Chính phủ, vạch trần âm mưu phản động và kêu gọi giáo dân trở về với gia đình. Tuy nhiên, các đối tượng phản động tiếp tục dùng vũ lực chống đối, ném lựu đạn, bắn súng tiểu liên làm nhiều cán bộ, chiến sĩ hy sinh và bị thương, đồng thời bắt giữ 06 cán bộ, bộ đội ta. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, lực lượng Công an Thanh Hóa phối hợp với quân đội và Ban Tôn giáo vận tiếp tục bao vây, cô lập bọn phản động, đồng thời kiên trì tuyên truyền, vận động quần chúng giải tán và kêu gọi các đối tượng chống đối ra hàng.

Theo phương án đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, ngày 08/01/1955, lực lượng Công an phối hợp với lực lượng quân đội và các lực lượng chức năng đồng loạt triển khai kế hoạch, tiến hành bao vây nhà xứ Ba Làng. Kết hợp đấu tranh chính trị với tuyên truyền tạo áp lực vũ trang buộc linh mục Nguyễn Dương Hiến cùng các đối tượng cầm đầu phải đầu hàng. Lực lượng Công an và các đơn vị phối hợp đã giải thoát an toàn 06 cán bộ bị bắt giữ, hơn 1.000 giáo dân bị các phần tử phản động khống chế, bắt giữ 451 đối tượng, thu 07 khẩu súng trường, 01 khẩu tiểu liên, 01 khẩu súng ngắn, 03 quả lựu đạn cùng nhiều hung khí khác. Toàn bộ kế hoạch biến Ba Làng thành trung tâm chống đối của địch bị đập tan, tình hình an ninh chính trị trên địa bàn nhanh chóng được lập lại, tạo điều kiện để nhân dân ổn định cuộc sống và khôi phục sản xuất.

Thắng lợi của cuộc đấu tranh tại Ba Làng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, song yếu tố có ý nghĩa quyết định chính là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự chỉ đạo kịp thời của Tỉnh ủy Thanh Hóa và vai trò nòng cốt của lực lượng Công an Thanh Hóa. Thắng lợi được tạo nên từ sự chuẩn bị công phu, trong đó công tác điều tra cơ bản, nắm tình hình, xây dựng cơ sở bí mật, vận động quần chúng, tranh thủ các chức sắc tiến bộ, phân hóa đối tượng… được tiến hành liên tục trước khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế. Dập tắt vụ bạo loạn ở Ba Làng đã khẳng định một nguyên tắc xuyên suốt trong công tác bảo vệ an ninh quốc gia của lực lượng Công an nhân dân là phải biết kết hợp hài hòa giữa kiên quyết và mềm dẻo, giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh nghiệp vụ, giữa vận động quần chúng với trấn áp đối tượng cầm đầu. Chính sự kết hợp đó đã bảo đảm vừa làm thất bại âm mưu của các thế lực phản động, vừa giữ vững chính sách đoàn kết lương - giáo của Đảng, vừa củng cố niềm tin của đồng bào Công giáo đối với chính quyền cách mạng. Đây cũng chính là bài học có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc trong xử lý các vụ việc phức tạp liên quan đến tôn giáo và trong sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc hiện nay, góp phần giữ vững ổn định chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng./.

                                                                                                    Đồng chí Thượng tá Lê Duy Dũng

                                                                                                                          Trưởng phòng An ninh nội địa,

                                                                                                                              Công an tỉnh Thanh Hoá

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lịch sử biên niên Công an nhân dân Thanh Hoá tập II (1954 - 1975), Nxb Thanh Hoá, Thanh Hoá 1998.

2. Lịch sử Công an nhân dân Thanh Hoá tập II (1954 - 1975), Nxb Thanh Hoá, Thanh Hoá 1999.

3. Tổng kết lịch sử Công an Thanh Hoá trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Thanh Hoá tháng 02/2014.


Thăm dò ý kiến
noData
Không có dữ liệu