|
A- A A+ |

Dấu ấn nhiệm kỳ Chính phủ: Từ bản lĩnh giữ ổn định đến quyết sách tạo nền tảng

Nhiệm kỳ 2021-2025 sắp khép lại. Đây là nhiệm kỳ mà Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ điều hành đất nước trong một giai đoạn đặc biệt nhiều biến động, với những cú sốc liên tiếp từ bên ngoài và những đòi hỏi đổi mới mạnh mẽ từ bên trong. Từ giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn đến những quyết sách đột phá về thể chế, tổ chức bộ máy và chính sách an sinh xã hội chưa từng có tiền lệ, các lựa chọn điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong nhiệm kỳ này đang tạo nên nền tảng quan trọng cho mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới.

Một phiên họp Chính phủ Thường kỳ do Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì - Ảnh: VGP

Trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, những chia sẻ của TS. Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ với Báo điện tử Chính phủ đã góp phần làm rõ dấu ấn điều hành, sức chống chịu của nền kinh tế và những bài học chính sách có ý nghĩa dài hạn.

Thưa ông, năm 2025 đã khép lại trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động. Từ góc nhìn của thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng, theo ông đâu là điểm sáng nổi bật nhất trong điều hành kinh tế - xã hội của Chính phủ trong năm qua?

TS. Cấn Văn Lực: Tôi muốn dùng 4 từ để nói về điểm sáng nổi bật năm 2025, đó là: "Ấn tượng" và "Nền tảng". Ấn tượng là bởi vì trong bối cảnh rủi ro, thách thức nhiều hơn là cơ hội, thuận lợi ở bên ngoài, cùng với rất nhiều đột phá, thay đổi ở trong nước, nhưng Việt Nam vẫn đạt được "tam giác mục tiêu". Một là, lãnh đạo Đảng và Nhà nước quyết liệt đột phá về thể chế, sắp xếp tinh gọn tổ chức - bộ máy, sáp nhập bộ - ngành, tỉnh - thành phố, vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, được nhân dân và doanh nghiệp ủng hộ, kỳ vọng. Nhiều cơ chế, chính sách đột phá ở các lĩnh vực then chốt (khoa học-công nghệ, hội nhập quốc tế, cải cách thể chế, phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế Nhà nước, đảm bảo an ninh năng lượng, đổi mới giáo dục - đào tạo và y tế, cùng nhiều cơ chế đặc thù cho một số tỉnh, thành phố lớn…) được ban hành, tạo nền tảng chính trị vững chắc cho mục tiêu phát triển thời gian tới.

Hai là, tăng trưởng kinh tế đạt 8,02%, thuộc nhóm cao trong khu vực và trên thế giới, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát ở mức khá thấp (3,31%), các cân đối lớn, an ninh năng lượng và an sinh xã hội được bảo đảm.

Ba là, nhiều quyết sách chưa từng có tiền lệ được ban hành nhân kỷ niệm những sự kiện trọng đại của đất nước hay ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt như phát tiền mặt cho dân, đẩy nhanh các chiến dịch xây dựng nhà dột nát, nhà mới và sửa sang nhà cũ cho

người dân sau bão lũ. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục gặt hái thành công... Điều này thể hiện bản lĩnh, sự linh hoạt và sáng tạo trong bối cảnh bất thường như vậy.

"Nền tảng" là bởi vì tất cả những kết quả ấn tượng nêu trên đang tạo nền tảng cho tăng trưởng 10% trở lên trong giai đoạn 2026-2030 và tiếp tục đà tăng trưởng cao sau này.

Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu tại một cuộc họp Chính phủ thường kỳ - Ảnh: VGP

Nếu nhìn cả nhiệm kỳ 2021-2025, ông đánh giá như thế nào về năng lực "giữ ổn định kinh tế vĩ mô trong biến động lớn" - yếu tố được coi là xuyên suốt trong điều hành của Chính phủ nhiệm kỳ này? Trước đây chúng ta hay đánh giá sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam còn hạn chế. Vậy theo ông trong nhiệm kỳ này, nền kinh tế Việt Nam đã đủ sức chống chịu trước các cú sốc từ bên ngoài?

TS. Cấn Văn Lực: Đây là một vấn đề quan trọng vì nó thể hiện yếu tố kiên định và sức chống chịu của nền kinh tế trong nhiệm kỳ và sau này. Trước hết, trong nhiệm kỳ vừa qua, lãnh đạo Đảng, Quốc hội và Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ luôn kiên định với cặp phạm trù: Đó là phát triển để ổn định và ổn định cũng là để phát triển bền vững. Theo đó, chính sách tài khóa (CSTK) mở rộng có trọng tâm, trọng điểm, chính sách tiền tệ (CSTT) chủ động, linh hoạt và phối hợp chặt chẽ với các chính sách vĩ mô khác nhằm đạt được "tam giác mục tiêu" như nêu trên.

Thực tiễn là chúng ta đã làm được. Kinh tế tăng trưởng khá (bình quân 6,3%/năm trong cả nhiệm kỳ), lạm phát được kiểm soát ở mức 3,04%; tỷ giá, lãi suất, an toàn hệ thống tài chính, tiền tệ, bất động sản cơ bản được giữ khá ổn định, có điều chỉnh phù hợp với thực tiễn; các cân đối lớn được bảo đảm; nợ công, nợ nước ngoài, thâm hụt ngân sách, nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ đều trong ngưỡng Quốc Hội cho phép, có những chỉ tiêu khá xa ngưỡng cho phép. Chứng tỏ nền kinh tế nói chung và lực lượng doanh nghiệp, người dân nói riêng đã có được sức chống chịu tốt lên nhiều, giúp vượt qua các cú sốc (như thiên tai, dịch bệnh, tác động chiến tranh, cạnh tranh chiến lược về thương mại - công nghệ, đứt gãy chuỗi cung ứng, bảo hộ thương mại gia tăng, lạm phát thế giới cao….) một cách thành công và đạt kết quả phát triển kinh tế-xã hội, vị thế và thứ hạng quốc tế rất tích cực, là điểm sáng của kinh tế toàn cầu, được quốc tế ghi nhận.

Tất nhiên, còn nhiều việc phải làm để nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế trong bối cảnh Việt Nam mở cửa, hội nhập sâu rộng, cần giải pháp căn cơ, kiên trì thời gian tới.

Nhiệm kỳ qua, lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng đạt kết quả ấn tượng. Trong ảnh, Thủ tướng Phạm Minh Chính trực tiếp thị sát công trường Cảng hàng không quốc tế Long Thành và trao đổi chủ đầu tư, đơn vị thi công về dự án - Ảnh: VGP

Chuyển biến trong tư duy điều hành

Theo ông, dấu ấn chính sách nào của nhiệm kỳ này sẽ còn tác động dài hạn tới nền kinh tế trong những năm tới?

TS. Cấn Văn Lực: Dấu ấn chính sách có tác động dài hạn nhất của nhiệm kỳ 2021-2025 chính là việc triển khai đồng bộ 3 đột phá chiến lược: Hoàn thiện thể chế, phát triển kết cấu hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Những đột phá này, đặc biệt được đẩy mạnh trong giai đoạn 2024-2025, không chỉ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội trước mắt mà còn tạo đà, tạo nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững trong những năm tới.

Ví dụ, cuộc "cách mạng" tinh gọn tổ chức bộ máy, cùng với hàng loạt quyết sách chiến lược, luật, nghị quyết, nghị định và văn bản hướng dẫn được ban hành thời gian qua đã và đang mang tính kiến tạo phát triển, tháo gỡ nhiều rào cản về pháp lý, quy hoạch, không gian và nguồn lực tài chính. Những cải cách này vừa đóng góp trực tiếp vào kết quả phát triển năm 2025, vừa mở ra dư địa tăng trưởng mới cho giai đoạn tiếp theo, với điều kiện được tiếp tục triển khai một cách kiên trì và hiệu quả.

Một điểm được nhắc tới nhiều là sự chuyển biến trong tư duy điều hành, từ "ứng phó tình huống" sang "chủ động kiến tạo". Ông nhìn nhận sự thay đổi này thể hiện rõ nhất ở lĩnh vực nào?

TS. Cấn Văn Lực: Tôi thấy rõ nét nhất là trong lĩnh vực hoàn thiện thể chế và kết cấu hạ tầng. Thể chế đang được thiết kế, hoàn thiện theo hướng thay đổi tư duy, từ bỏ quan điểm "không quản được thì cấm" sang "tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất - kinh doanh". Ví dụ, Nghị quyết 57-NQ/TW về đổi mới KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Nghị quyết 66-NQ/TW về cải cách thể chế, Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân… đều đi theo hướng này, sau đó được luật hóa, cụ thể hóa và đang dần đi vào cuộc sống. Lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng đạt kết quả ấn tượng, nhiều dự án, công trình trọng điểm hoàn thành trước thời hạn, tạo diện mạo mới cho đất nước, trong đó khu vực tư nhân ngày càng thể hiện vai trò rõ nét hơn, thuận lợi hơn.

Cảng hàng không quốc tế Long Thành là công trình ấn tượng trong nhiệm kỳ qua

Chính phủ cầu thị, lắng nghe và phản hồi trở lại

Trong quá trình tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ, ông thấy khả năng tiếp thu, phản hồi và điều chỉnh chính sách dựa trên khuyến nghị của chuyên gia đã có những chuyển biến ra sao so với đầu nhiệm kỳ?

TS. Cấn Văn Lực: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ khá cởi mở, cầu thị, sẵn sàng nghe, trao đổi, tiếp thu và phản hồi trở lại. Nhiều chính sách quan trọng, kịp thời đã được ban hành trên cơ sở trao đổi, tiếp thu ý kiến của các bên, trong đó có ý kiến của những chuyên gia tư vấn, của Hội đồng Tư vấn chính sách sau này. Đáng kể là Chương trình mở cửa các hoạt động kinh tế-xã hội trong dịch COVID-19, Chương trình phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội 2022-2023 (sau dịch COVID-19), chính sách tài khóa - tiền tệ, các chương trình kích cầu đầu tư - tiêu dùng, ổn định kinh tế vĩ mô, lành mạnh hóa thị trường đất đai - bất động sản, giải pháp ứng phó chính sách thuế quan mới của Hoa Kuf, các dự thảo hồ sơ trình Trung ương xem xét, ban hành các nghị quyết chiến lược… đều có dấu ấn "tư vấn" ở trong đó. Chúng tôi hài lòng vì đã góp phần nhỏ bé trong những quyết sách này.

Nhiều ý kiến cho rằng cải cách thể chế vẫn là "điểm nghẽn của điểm nghẽn". Ở góc độ tư vấn chính sách, ông đánh giá đâu là bước tiến thực chất nhất trong cải cách thể chế nhiệm kỳ này và đâu vẫn là hạn chế cần thẳng thắn nhìn nhận?

TS. Cấn Văn Lực: Bước tiến lớn nhất trong cải cách thể chế của nhiệm kỳ vừa qua nằm ở tiến độ triển khai nhanh, đồng bộ và nhất quán. Khi các nghị quyết lớn của Trung ương được ban hành, điển hình như Nghị quyết 57-NQ/TW, quá trình luật hóa, xây dựng văn bản hướng dẫn và tổ chức thực hiện được triển khai gần như đồng thời, hạn chế đáng kể độ trễ chính sách. Cùng với đó, các quyết sách chiến lược khác – từ "Bộ tứ trụ cột" trước đây đến hệ thống 9 nghị quyết trụ cột hiện nay – được ban hành theo hướng bổ trợ, liên thông và nhất quán, thay vì rời rạc như các giai đoạn trước.

Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất vẫn nằm ở khâu tổ chức thực hiện. Nguyên nhân một phần xuất phát từ những thay đổi lớn về tổ chức bộ máy trong thời gian qua, như sáp nhập đơn vị hành chính, vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cùng với việc nhiều chính sách, văn bản được ban hành trong cùng thời điểm; phần khác do năng lực thực thi chưa đồng đều giữa các cấp, các địa phương. Chính vì vậy, tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 của Chính phủ, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu tập trung nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, đặc biệt là ở cấp cơ sở, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới.

Nếu được gửi một khuyến nghị chính sách quan trọng nhất tới Chính phủ nhiệm kỳ tới, ông sẽ nhấn mạnh điều gì để bảo đảm tăng trưởng nhanh nhưng bền vững hơn?

TS. Cấn Văn Lực: Đó là đoàn kết, đồng lòng, tất cả vì cái chung, lấy người dân, doanh nghiệp và địa phương làm trung tâm; chú trọng năng lực thực thi; đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với kiên định ổn định kinh tế vĩ mô; ưu tiên chính sách, giải pháp cả trước mắt và lâu dài... Tôi hoàn toàn tin tưởng Chính phủ nhiệm kỳ tới sẽ tiếp tục gặt hái thành công hơn nữa!

Xin trân trọng cảm ơn ông!


Tác giả: Ban Biên tập Cổng TTĐT
Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Chính phủ
Tin liên quan
Thăm dò ý kiến
noData
Không có dữ liệu